Hồ Chí Minh – nguồn cảm hứng bất tận về cách mạng và văn hóa

Đăng ngày . Chuyên mục: Tuổi trẻ HUFLIT học tập và làm theo lời Bác |

Hồ Chí Minh – Lãnh tụ thiên tài của Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam và thế giới. Ở Người, có sự hội tụ, kết hợp và phát huy đến mức cao nhất, hoàn mỹ nhất tinh hoa văn hóa dân tộc và thời đại, phương Ðông và phương Tây, cổ và kim, trí dũng và nhân văn, vĩ đại và giản dị, khiêm nhường. Người là nguồn cảm hứng bất tận cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Người cũng là nguồn cảm hứng chưa bao giờ ngưng nghỉ của các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, các nghệ sĩ ở nhiều loại hình báo chí và nghệ thuật khác nhau.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn Nghị sĩ Quốc hội Anh sang thăm Việt Nam, ngày 4/5/1957. Ảnh: Tư liệu BTHCM

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước, gắn bó mật thiết với nhân dân lao động. Quê hương xứ Nghệ của Người, suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, luôn là đất phên dậu, là “thành đồng ao nóng của nước và là then khóa của các triều đại”(1). Truyền thống vẻ vang của quê hương và gia đình ảnh hưởng sâu sắc, mạnh mẽ đến tuổi ấu thơ của Bác, đến việc hình thành nhân cách, tư tưởng, đạo đức của Bác.

Ngày 5/6/1911, tại bến cảng Sài Gòn, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trong tên mới Văn Ba xuống con tàu biển mang tên Ðô đốc Latouche Tréville sang phương Tây, như sau này Người kể lại “Tôi muốn đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”(2). Ở Pháp, Người cùng Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường gửi Yêu sách của nhân dân An Nam đến Hội nghị Véc-xây (1919); viết Bản án chế độ thực dân Pháp (1920); bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ ba (Quốc tế Cộng sản), trở thành một trong những người sáng lập Ðảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Năm 1922, Người sáng lập báo Người cùng khổ (Le Paria), ngay bài viết cho số đầu tiên, Người khẳng định sứ mệnh tờ báo là “giải phóng con người”. Hơn 10 năm ở trời Tây, vừa vất vả lao động kiếm sống, vừa đau đáu tìm kiếm con đường cứu nước, cứu dân, Nguyễn Ái Quốc nhận rõ một sự thật đầy đau xót, căm hận: chính chủ nghĩa tư bản, bè lũ đế quốc thực dân là những kẻ gây ra mọi áp bức, bóc lột, đau khổ cho công nhân, nông dân và các tầng lớp khác ở các thuộc địa và ở ngay cả chính quốc. Người nói: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lê-nin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lê-nin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(3). Từ chủ nghĩa yêu nước, Người đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tiếp thu Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lê-nin. Sự gặp gỡ, tiếp xúc lịch sử ấy hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên, may mắn, đó là một sự dấn thân, sự chọn đường chủ động và tự giác, một tất yếu khách quan đầy tính khoa học và cách mạng.

Trước đó, cụ Phan Bội Châu, một người con của Nam Ðàn đi về phương Ðông, nhưng nước Nhật “đồng chủng”, “đồng cừu” đang xâm lược Trung Quốc, Triều Tiên, ra lệnh trục xuất chính Phan và các du học sinh Việt Nam yêu nước. Cải cách của Khang Hữu Vy, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc thất bại, cho thấy Trung Quốc không thể đi theo con đường Duy Tân của Nhật Bản. Cách mạng Tân Hợi (năm 1911) của Tôn Văn tuy lật đổ được ngai vàng đế chế, nhưng đã không cởi bỏ được ách đô hộ của đế quốc và bọn phong kiến tay sai. Nhiều trí thức Việt Nam đương thời cũng sang Pháp, có người chỉ lo học hành, kiếm sống, làm giàu; có người vừa học chữ, vừa tìm đường cứu nước, cứu dân. Luật sư, tiến sĩ Phan Văn Trường và Phó bảng Phan Châu Trinh tiêu biểu cho nhóm thứ hai. Tuy nhiên, sống và hoạt động ở Pháp nhiều năm, từng tiếp xúc với các lực lượng cánh tả Pháp, vậy mà các ông vẫn không tìm được con đường đúng đắn giải phóng dân tộc, giải phóng cần lao, không đến được với chủ nghĩa Mác – Lê-nin như Nguyễn Ái Quốc. Theo báo cáo của Trung ương Ðảng Xã hội Pháp thì năm 1913 đã có 7 người Việt Nam vào Ðảng Xã hội Pháp, năm 1919 có 80 người Việt Nam tham gia Ðảng này, nhưng đến năm 1920 chỉ còn 20 người, duy chỉ có Nguyễn Ái Quốc (vào Ðảng Xã hội Pháp năm 1918) trở thành người cộng sản(4).

Giữa năm 1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời nước Pháp sang Liên Xô. Trên đất nước của Lê-nin, Người dày công học tập, nghiên cứu mong có ngày trở về Tổ quốc để giải phóng nước mình, mang tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Nhà thơ Liên xô Ô-xíp Man-đen-xtam gặp Nguyễn Ái Quốc vào thời điểm đó và có bài viết về Người: “Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải là văn hóa châu Âu mà có lẽ là nền văn hóa của tương lai”… “Dân tộc Việt Nam là một dân tộc giản dị và lịch sự. Qua cử chỉ cao thượng, tiếng nói trầm lắng của Nguyễn Ái Quốc, tôi thấy được ngày mai, thấy được viễn cảnh trời yên bể lặng của tình hữu ái toàn thế giới bao la như đại dương”(5). Khi đã về Cao Bằng để gây dựng lực lượng cách mạng, trong một lần đến Quảng Tây, Trung Quốc tháng 8 năm 1942, Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam. Cuốn “Nhật ký trong tù” ra đời trong hoàn cảnh ấy. “Quảng Tây giải khắp mười ba huyện/ Mười tám nhà lao đã ở qua”…, …”Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao/ Muốn nên sự nghiệp lớn/ Tinh thần càng phải cao”. Người luôn đau đáu “Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”… Từ các tác phẩm khởi đầu viết bằng tiếng Pháp “Bản án chế độ thực dân Pháp”, các truyện ngắn đăng trên báo “Người cùng khổ”, tiếp đó là “Ðường Kách mệnh”, “Nhật ký chìm tàu” đến tập thơ “Nhật ký trong tù” và hai áng hùng văn “Tuyên ngôn Ðộc lập”, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, Người đã đưa tên mình vào dòng tên các nhà cách mạng và văn hóa lớn của nhân loại. Trong tập thơ “Nhật ký trong tù”, Người nêu một tuyên ngôn có tính dẫn đường cho thơ nói riêng, văn học, nghệ thuật nói chung “Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong”. Người cũng truyền sức mạnh, niềm tin, sự lạc quan cho những ai đang trong cảnh nguy nan, khốn khó “Ði đường mới biết gian lao/ Núi cao rồi lại núi cao trập trùng/ Núi cao lên đến tận cùng/ Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”. Ngày 10-12-1951, Người viết thư gửi các họa sĩ nhân dịp Triển lãm hội họa kháng chiến ở Việt Bắc. Trong thư, Người khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Với những người làm báo, Người căn dặn: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”.

Trong cuốn sách “Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, tác giả Trần Dân Tiên kể: “Có người hỏi Nguyễn Ái Quốc: Ông là người thể nào? Người cộng sản hay người theo chủ nghĩa Tôn Dật Tiên? Sau khi giải thích, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Khổng Tử, Jê-su, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao! Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết”(6).

Tư tưởng đại đoàn kết, nhân ái, khoan dung, nhân văn ấy của Hồ Chí Minh làm rung động con tim nhiều quốc gia, dân tộc, giai tầng, tôn giáo. Những dòng tên thân yêu “Hồ Chí Minh”, “Bác Hồ” được quen gọi ở nhiều nước. Năm 1958, trong chuyến thăm hữu nghị Ấn Ðộ lần thứ hai, Bác Hồ được các nhà lãnh đạo và nhân dân Ấn Ðộ dành sự yêu mến và kính trọng đặc biệt. Tại cuộc đồng diễn của hơn 3.000 thiếu nhi Ấn Ðộ chào mừng vị Chủ tịch của Việt Nam, các em đồng thanh hô lớn: “Cha, cha Hồ!” (Bác Hồ! Bác Hồ!). Chủ tịch Cuba Phi-đen Ca-xtơ-rô lúc sinh thời ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vinh quang đời đời thuộc về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tấm gương lớn nhất của người cách mạng vĩ đại ngày càng được khâm phục, ngưỡng mộ và luôn luôn được yêu mến không chỉ nhân dân Việt Nam mà còn ở các dân tộc khác trên thế giới”. Nhà thơ Cuba Phê-lich Pi-ta Rô-đờ-ri-ghết nhận định: “Trong tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người nông dân ở Việt Nam, ở An-giê-ri, ở Tuy-ni-di, ở Công-gô, người bị áp bức ở quần đảo Ăng-ti-dát hoặc ở “miền Nam già cỗi” của nước Mỹ, đều có một người nhiệt thành bênh vực mình”. Nhà thơ Cuba còn có những tác phẩm thơ đặc sắc về Hồ Chí Minh và Việt Nam “Hồ Chí Minh, tên Người là cả một niềm thơ” và “Thủ đô Hà Nội nhớ Bác Hồ”.

Nhiều chính khách, nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu đến thăm Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Ba Ðình, Hà Nội(7) đã cảm phục, dành những lời ca ngợi yêu kính, thân thương đối với Hồ Chí Minh. Ngài Tổng thống An-giê-ri A.Bu-tê-phli-ca viết: “Chúng tôi tự hào và đánh giá cao sự khiêm nhường, giản dị, thanh cao của Hồ Chí Minh. Cuộc đời con người vĩ đại này sẽ còn sống mãi, bất diệt trong ký ức của dân tộc mình. Người còn là nguồn hy vọng và ngọn đuốc cho các dân tộc đang đấu tranh vì một thế giới hòa bình, công bằng, tự do, tiến bộ và thịnh vượng”. Ngài Xten-ly Ma-bi-đê-la lãnh đạo của Hội đồng Cách mạng Ðại hội dân tộc Phi khi thăm nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Một ngôi nhà đơn sơ, một chiếc giường giản dị. Người sống một cuộc sống vô cùng khiêm tốn trong lúc chính Người có thể sống như một ông vua. Người luôn xứng đáng là một tấm gương cho mọi thời đại cách mạng. Ðó là một con người suốt đời hoạt động cho cuộc sống ngày càng tốt hơn, không chỉ cho nhân dân Việt Nam, mà cho người châu Á, châu Phi, châu Mỹ la-tinh và ở khắp những nơi còn có sự bất công”. Nữ nhà báo, nhà văn Pháp Ma-đơ-len Ríp-phô từng đến Việt Nam nhiều lần, ở nhiều ngày và vinh dự được nhận làm con nuôi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bà tặng Bác Hồ cuốn sách “Ở miền Bắc Việt Nam viết dưới bom” với lời đề tặng: “Kính gửi Bác Hồ sự đóng góp nhỏ bé nhưng chân thành này vào cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam anh hùng với tất cả tấm lòng của cháu”. Quốc trưởng Cam-pu-chia Nô-rô-đôm Xi-ha-núc viết: “… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử các dân tộc Ðông Dương và các dân tộc châu Á, châu Phi và châu Mỹ la-tinh như là tượng trưng cho cuộc đấu tranh yêu nước giành độc lập dân tộc. Ðược nhân dân kính mến, được các bạn hữu khâm phục, được kẻ thù tôn trọng, Người là một trong những nhân vật hoạt động chính trị và là lãnh tụ cao quý nhất của thế kỷ này…”. Nhân kỷ niệm trọng thể 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tiến sĩ M.Ác-mét, Giám đốc khu vực châu Á – Thái Bình Dương của UNESCO đã nói: “Ít có nhân vật nào trong lịch sử đã trở thành huyền thoại ngay từ khi còn sống và rõ ràng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong số đó”.

Ở nước Pháp, có khoảng 45 điểm di tích lưu giữ nhiều di tích, tài liệu, hiện vật quý liên quan đến sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1911 đến 1927 và năm 1946. Nổi bật nhất là ngôi nhà số 9, ngõ Công-poanh, quận 17, Pa-ri. Ở Cu-ba, tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt tại trung tâm công viên Hòa bình trên đại lộ 26, một trong những đại lộ lớn nhất của thủ đô La Ha-ba-na. Công viên này được người dân gọi trìu mến là công viên Hồ Chí Minh. Ở tỉnh Sê Kông, nước bạn Lào, trên bàn thờ của hầu hết các gia đình đều đặt di ảnh Bác Hồ. Mỗi dịp lễ, Tết quan trọng, họ đều dâng hương lên bàn thờ tưởng nhớ Bác. Bài hát “Hồ Chí Minh kính yêu muôn đời” của nhạc sĩ Buangeun Saphouvong là bài hát thường được biểu diễn trong các sự kiện lớn của hai nước. Sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu “, nhạc sĩ người Anh E-van Mác-câu viết bài hát “The ballad of Ho Chi Minh” (Bài ca Hồ Chí Minh). Bài hát đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và trở nên thân thuộc với công chúng nhiều nước. Tập thơ “Nhật ký trong tù” của Bác được dịch ra 35 thứ tiếng trên thế giới, có nước dịch và tái bản nhiều lần. Trong bài thơ “Hồ Chí Minh”, nhà thơ An-giê-ri Tra-ba-ni Ac-khơ-mét viết: “Tên của Người đồng nghĩa với danh từ chống đế quốc/ Tên của Người cao hơn mây bay/ Tên của Người cao hơn đại bác/ Tiếng nói của Người dội vang đất nước/ Kêu gọi nhân dân cầm vũ khí đứng lên”. Nhà thơ Bun-ga-ri Ghê-oóc-ghi Vê-xê-li-nôp viết về Người: “Một lãnh tụ và một trẻ thơ/ Ðã hiểu nhau tự bao giờ/ Chân thành và bền chặt/ Và con tôi cứ tự hào nhắc mãi/ Hai bố con mình hôm ấy/ Ðã cùng nói chuyện với Hồ Chí Minh…”. Nhà thơ Ða-giô của In-đô-nê-xi-a ca ngợi Người: “Khi đức độ đã ngời như ngọc quý/ Thì có nghĩa gì chiếc ghế phủ nhung êm…”.

Ở đất nước của Hồ Chí Minh, từ năm 1945 đến nay, đã ra đời và lan tỏa hàng chục vạn tác phẩm báo chí, văn, thơ, lý luận, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, múa, kiến trúc, văn nghệ dân gian, văn nghệ các dân tộc thiểu số… về chủ đề Hồ Chí Minh, hình tượng Bác Hồ, về các tác phẩm báo chí, văn hóa, văn nghệ của Bác. Học tập và làm theo lời Bác dạy, trong đời sống báo chí, văn nghệ đã hình thành lớp lớp nhà báo, nhà văn, nghệ sĩ hăng hái đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh “phò chính, trừ tà”. Nhiều người lăn lộn ở chiến trường chống xâm lược Pháp, có nhiều người đã hy sinh anh dũng như các nhà văn, nhà báo – chiến sĩ Nam Cao, Trần Ðăng, Trần Mai Ninh, Thôi Hữu… Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hàng ngàn văn nghệ sĩ đã “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “tiếng hát át tiếng bom” như các nhà báo, nhà văn Anh Ðức, Nguyễn Thi, Nguyễn Sáng, Phan Tứ, Nguyễn Trung Thành, Trần Hiếu Minh, Phạm Tiến Duật; có những người đã anh dũng hy sinh như Lê Anh Xuân, Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Trọng Ðịnh, Chu Cẩm Phong…; những liệt sĩ là đạo diễn, quay phim như Lê Văn Bằng, Lê Viết Thế, Nguyễn Như Dung, Nông Văn Tư…

Về âm nhạc, có thể kể các tác phẩm “Ca ngợi Hồ Chủ tịch”, “Biết ơn Cụ Hồ Chí Minh”, “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người”, “Người là niềm tin tất thắng”, “Bài ca dâng Bác”, “Tiếng hát giữa rừng Pác Bó”, “Vào lăng viếng Bác”, “Thăm bến Nhà Rồng”, “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên, nhi đồng”… Về mỹ thuật, có thể kể đến họa sĩ Diệp Minh Châu ở Nam Bộ thời kỳ đầu chống Pháp. Sau khi được nghe Bản Tuyên ngôn Ðộc lập của Bác và tốp ca thiếu nhi hát bài “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” của Lưu Hữu Phước, trong cảm xúc dâng trào, người họa sĩ đã lấy dao rạch vào cánh tay mình để lấy máu vẽ chân dung Bác với ba em bé đại diện cho thiếu nhi bắc trung nam. Bức huyết họa sau đó đã được gửi ra Việt Bắc, dâng lên Bác Hồ kính yêu. Một bức huyết họa khác ra đời gần 20 năm sau đó của họa sĩ – chiến sĩ Lê Duy Ứng lấy máu từ hai con mắt bị thương rất nặng của mình vẽ bức chân dung Bác Hồ trên nền lá cờ Tổ quốc, cờ Ðảng. Bức tranh đặc biệt đó hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.

Còn biết bao câu chuyện ở trong nước và nước ngoài mà ở đó, Hồ Chí Minh là nguồn cảm hứng, là niềm tin, là ánh lửa, là nguồn sức mạnh to lớn để các dân tộc, mọi con người vượt lên gian khổ, gông xiềng, bom đạn để giải phóng dân tộc mình, giải phóng xã hội, giải phóng con người, vươn tới cuộc sống tự do, dân chủ, công bằng, ấm no, hạnh phúc, được làm chủ của một đất nước độc lập, được làm một con người giản dị, nhân văn và chân chính.

PGS, TS NGUYỄN THẾ KỶ

Ủy viên T.Ư Ðảng, Tổng Giám đốc Ðài TNVN, Chủ tịch HĐ Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật  T.Ư

Theo Nhandan.org.vn

——————————————–

(1) Theo “Lịch triều hiến chương loại chí” của nhà sử học Phan Huy Chú.

(2) Theo cuốn sách “Vừa đi đường vừa kể chuyện” của tác giả T.Lan, bản in năm 1976 của Nhà xuất bản Sự thật.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 12, trang 563 (Bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lê-nin”, đăng trên Tạp chí Các vấn đề phương Ðông, Liên Xô, 1960, nhân kỷ niệm 90 năm Ngày sinh V.I.Lê-nin).

(4) Bác Hồ với quê hương Nghệ Tĩnh (kỷ yếu Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh), NXB Nghệ Tĩnh, 1990, trang 146.

(5) Báo Lửa nhỏ, tiếng Nga, 1923 của Oxip Manđenxtam (dẫn trong cuốn sách “Văn hóa – nghệ thuật cũng là một mặt trận”, NXB Văn học, 1981, trang 477.

(6) Bác Hồ với quê hương Nghệ Tĩnh (kỷ yếu Hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh), NXB Nghệ Tĩnh, 1990, trang 94.

(7) Những dòng ghi cảm tưởng của khách quốc tế tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh (Phủ Chủ tịch), Ba Ðình, Hà Nội.

 

Nguồn: https://baotanghochiminh.vn/ho-chi-minh-nguon-cam-hung-bat-tan-ve-cach-mang-va-van-hoa.htm